Nghệ sĩ Việt Nam: Cải Lương

Sắp xếp theo: Hot Alphabet

NSƯT Thanh Ngân

NSƯT Thanh Ngân

Thanh Ngân là con gái út của hai nghệ sĩ Hoài Châu – Kim Hoa, sinh ra trong đại gia đình nghệ sĩ tài danh có 3 đời theo nghề hát từ thập niên 1930 đến nay. Gia đình của Thanh Ngân có 4 người con gái tài sắc đều là diễn viên sân khấu : Thanh Hằng, Ngân Huỳnh, Thanh Ngọc, Thanh Ngân. Các đoàn đã tham gia cộng tác: Từ lúc còn ấu thơ, Thanh Ngân đã theo cha mẹ lưu diễn qua các đoàn hát Tiền Giang, đoàn Hậu Giang, đoàn Cà Mau, đoàn sông Hương (Huế), đoàn Sàigon 1, đoàn Trần Hữu Trang, đoàn Minh Tơ , đoàn Huỳnh Long. - Những giải thưởng đạt được: + 1996 : Giải Trần Hữu Trang, vai Võ Thị Sáu trong vở ''Người con gái đất đỏ''. + 2000 : Giải Mai vàng báo Người lao động, vai Trang trong vở ''Trà hoa nữ”. + 2002 : Giải Mai vàng báo Người lao động, vai Lan trong vở ''Lan và Điệp''. + 2004 : Top 5 Giải Diễn Viên Tài Sắc báo Sân Khấu tổ chức. + 2005 : HCV Hội diễn SK chuyên nghiệp toàn quốc, vai Lượm vở “Cung đàn nào cho em”. + 2006 : Thanh Ngân vinh dự được Nhà nước Việt Nam trao tặng danh hiệu nghệ sĩ ưu tú. + 2009 : Huy chương vàng Hội diễn SK chuyên nghiệp toàn quốc, vai Tâm vở “ Cổ tích thời hiện đại”; Cúp vàng - giải thưởng HTV Awards, giải Nghệ sĩ cải lương được yêu thích nhất năm 2009. + 2010 : Cúp vàng - giải thưởng HTV Awards, giải Nghệ sĩ cải lương được yêu thích nhất năm 2010. - Những bài hát, vai diễn nổi tiếng: + Đơn ca : Điệu buồn phương nam, Sa mưa giông, Áo mới cà mau, Sóc sờ bai sóc trăng, các bài hát về đạo Phật như Suối nguồn từ bi, Thành tâm xám hối… + Các vai diễn: Trang trong vở ''Trà hoa nữ”, Út Lượm vở “ Cung đàn nào cho em, Huệ trong “Duyên Kiếp”, Phượng trong vở “Vợ và Tình”, Nguyệt - Tô Ánh Nguyệt, Lan trong vở ''Lan và Điệp'', Mai Đình trong vở “ Hàn Mạc Tử”, Thái hậu Dương Vân Nga trong vở diễn cùng tên, Jackly Hương trong “Tìm lại cuộc đời”, Quỳnh Nga trong “ Bên cầu dệt lụa”, Thúy Kiều trong “ Kim Vân Kiều”, Dung trong “Tướng cướp Bạch Hải Đường”, Trưng Trắc trong “ Tiếng trống mê linh”. Xem tiếp

Đào Vũ Thanh

Đào Vũ Thanh

Dấu ấn khó quên trong cuộc đời của Nhơn Hậu là những ngày đầu tháng 9/2002. Lúc ấy, Đoàn Nghệ thuật Tổng hợp TG chuẩn bị dàn dựng kịch bản “Trăng soi dòng Bảo Định” (Tác giả Huỳnh Anh - đạo diễn Đoàn Bá) tham gia Liên hoan Sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc khu vực ĐBSCL. Để bổ sung nguồn diễn viên, đoàn đã tuyển chọn một số giọng ca trẻ, mở lớp tập huấn về kỹ thuật biểu diễn, mời đạo diễn Ca Lê Hồng cùng một số giảng viên Trường Cao đẳng Sân khấu TP Hồ Chí Minh hướng dẫn. Nhạc sĩ Minh Tô, chủ nhân một “lò” dạy ca cổ ở Mỹ Tho có giới thiệu đến lớp một số học trò có năng khiếu, trong đó có Nhơn Hậu. Ngồi bên cạnh các bạn cùng lớp, đa số là những diễn viên đã từng có tên tuổi và đạt nhiều giải thưởng cao trong phong trào VNQC của tỉnh, Nhơn Hậu rất “khớp” bởi vốn liếng nghề nghiệp sau lưng cô chỉ là con số không. Mấy lần cô định bỏ về nhưng được thầy cô, bè bạn động viên nên đã cố gắng ở lại dự đến cuối lớp. Qua buổi biểu diễn báo cáo tổng kết lớp, đạo diễn Đoàn Bá đã quyết định chọn Nhơn Hậu vào vai bà Lộc (vợ của anh hùng dân tộc Thủ Khoa Huân) trong kịch bản sắp dàn dựng. Đây là một vai nữ chính tương đối phức tạp. Cầm kịch bản trên tay, Nhơn Hậu run lắm. Mấy lần cô xin trả vai diễn vì “em chưa biết gì về sân khấu làm sao mà diễn nổi”. Cả đoàn ai cũng tiếp sức bằng cách động viên tinh thần và chia sẻ kinh nghiệm nghề nghiệp cho Nhơn Hậu. Thôi thì “một liều ba bảy cũng liều”, Nhơn Hậu thu hết can đảm bước lên sàn tập mà trái tim đập thình thịch, tay chân thừa thãi, khúm núm từng bước đi, lập cập từng câu thoại. Nhưng chỉ sau mấy ngày khó khăn trong giai đoạn đầu phá hoang kịch bản, sức mạnh của nghệ thuật đã cuốn hút Nhơn Hậu vào nhân vật và cô đã bộc lộ năng khiếu ca diễn bẩm sinh một cách tuyệt diệu. Nhân vật bà Lộc (nhân vật đầu đời) đã được Nhơn Hậu khắc họa thật rõ nét, đầy sức thuyết phục. Đó là một người phụ nữ Nam bộ đôn hậu, cần cù, chịu thương chịu khó với chồng con nhưng lại vô cùng kiên quyết trước kẻ thù. Bà vừa giữ trọn đạo vợ hiền, vừa tham gia nghĩa lớn cứu nước và đã nuốt lệ vào lòng trong giây phút cuối cùng tiễn chồng lên máy chém. Với giọng ca ngọt ngào, nét diễn sâu sắc, tuy chân phương nhưng không sơ lược và sự kết hợp nhuần nhuyễn, phù hợp giữa động tác hình thể và tâm lý, Nhơn Hậu đã chinh phục được tình cảm khán giả và được Ban giám khảo đánh giá cao. Vai diễn đầu đời đã mang về cho cô Huy chương bạc sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc, một phần thưởng đáng giá mà ngay chính những diễn viên vào nghề lâu năm vẫn mơ ước. Sau đó, Nhơn Hậu lại tiếp tục đạt được Huy chương vàng giải triển vọng Trần Hữu Trang - một giải sân khấu rất danh giá do Đài Truyền hình và Hội Sân khấu TP Hồ Chí Minh tổ chức (2003). Từ đó, tên tuổi Nhơn Hậu sáng lên như một ngôi sao được giới yêu thích cải lương hâm mộ. Cô được mời tham gia một số vai diễn trên sân khấu trẻ Thắp Sáng Niềm Tin của nhà hát Trần Hữu Trang. Ở hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc năm 2005, với vai diễn Thủy Tiên trong vở “Bão trong ngày nắng” (tác giả Châu Thanh-Huỳnh Anh, đạo diễn Minh Ngọc - Tấn Lộc), Nhơn Hậu tiếp tục đựơc tặng Huy chương bạc. Trong hội diễn cải lương chuyên nghiệp toàn quốc vào tháng 12 năm 2009, Nhơn Hậu tham gia vai bà Lê Thị Thưởng, vợ của anh hùng dân tộc Trương Định trong vở “Cờ nghĩa giồng Sơn Quy” (Tác giả Huỳnh Anh - đạo diễn Tấn Lộc) của Đoàn Nghệ thuật tổng hợp Tiền Giang. Với lớp độc diễn lúc bà Thưởng bị giặc bắt vào nhà lao, vừa chịu cực hình tra tấn, vừa phải chứng kiến cảnh giặc hành hạ con trai mình nhưng vẫn kiên gan giữ tròn khí tiết, một lòng hướng về ngọn cờ chống Pháp của chồng, Nhơn Hậu đã thể hiện được bản lĩnh nghề nghiệp khá cao và hoàn toàn chinh phục được khán giả. Với vai diễn này, cô đã được tặng Huy chương vàng. Đây là đỉnh cao nghề nghiệp, là niềm hạnh phúc lớn lao từ ý chí vươn lên đáng trân trọng của một người nghệ sĩ trẻ. Ngoài sân khấu chuyên nghiệp, Nhơn Hậu còn được hầu hết các Đài Truyền hình phía Nam chú ý. Cô đã cộng tác với các Đài lớn như HTV, VTV, CVTV và nhiều Đài tỉnh như Tiền Giang, Long An, Vĩnh Long, Bến Tre, Đồng Tháp, Kiên Giang, Hậu Giang, Bình Phước, Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu... Từ năm 2003 đến nay, cô đã thu hình gần 500 bài ca lẻ, trên 100 vở cải lương, trong đó hơn 50 vở đóng vai chính. Niềm vui của Nhơn Hậu còn là việc tham gia các chương trình văn nghệ từ thiện. Cô đã hưởng ứng hằng trăm chương trình biểu diễn gây quỹ vì người nghèo, vì mái ấm tuổi thơ... khắp từ Nam ra Bắc. Nhơn Hậu thường bộc bạch: “Mình may mắn có được một cuộc sống đầy đủ thì phải thường xuyên cưu mang, giúp đỡ bà con nghèo khó, vậy mới xứng đáng với cái tên Nhơn Hậu mà ba mẹ đã đặt cho!”. Dự kiến của Nhơn Hậu thời gian tới là thực hiện một DVD và một chương trình biểu diễn khá hoành tráng tại TP Hồ Chí Minh để giới thiệu giọng ca của mình và kỷ niệm 9 năm ca hát. Ngoài việc phục vụ trên sân khấu tỉnh nhà, Nhơn Hậu sẽ tiếp tục cộng tác với các tụ điểm sân khấu, các Đài truyền hình khi có lời mời. Cô cũng đã nhận lời tham gia một số phim truyện sẽ được bấm máy vào năm 2010. Dù đã tạo được chỗ đứng khá vững chắc ở thành phố Hồ Chí Minh, một trong những trung tâm nghệ thuật lớn của cả nước, Nhơn Hậu vẫn bám trụ với Đoàn Nghệ thuật Tổng hợp Tiền Giang, nơi đã cưu mang và nuôi lớn cô từ những ngày mới bước chân vào nghề. Đó chính là một nét son đáng quý từ tấm lòng của Nhơn Hậu - người nghệ sĩ trẻ biết giữ trọn tấm lòng chung thủy, nghĩa tình sâu nặng với quê hương mà con đường danh vọng dễ làm người ta đánh mất... ĐẤT LÀNH CHIM ĐẬU Chiều chiều, trong căn nhà nhỏ nép mình dưới bóng râm mát dịu của khu vườn măng cục sai trái ở xã An Phú Tân, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh, người ta thường nghe vọng ra tiếng đàn, lời ca tài tử rất hấp dẫn. Đó là những buổi sinh hoạt của nhóm đàn ca tài tử trong xóm ấp. Trong số tài tử ca của nhóm, có một cậu bé trạc 12 tuổi, mặt mũi trắng trẻo, xinh xắn dễ thương. Đó là con trai của nhạc sĩ Ba Mừng, một ngón đờn ghi-ta có tiếng trong vùng. Chất giọng cậu bé khá tốt, kỹ thuật phun hơi nhả chữ và nhịp nhàng cũng chẳng thua ai. Mỗi lần cậu bé cất tiếng hát bài vọng cổ “Võ Đông Sơ” của soạn giả Viễn Châu, bà con trong xóm mê mẩn và trầm trồ: “Thằng nhỏ này lớn lên theo nghề hát được đa!”. Nhạc sĩ Ba Mừng ôm đờn thật chặt vào lòng, gục gật đầu, tỏ vẻ sung sướng vì cậu “quý tử” của mình. Đó là chuyện của 12 năm trước. Bây giờ cậu bé ấy đã trưởng thành, trở thành một nghệ sĩ cải lương khá nổi tiếng: Đào Vũ Thanh! Đào Vũ Thanh nhớ mãi dấu ấn hạnh phúc đầu tiên trong cuộc đời ca hát của mình. Đó là lúc anh đón nhận giải I trong cuộc thi Văn nghệ quần chúng tỉnh Trà Vinh với bài vọng cổ “Giây phút ngậm ngùi” của soạn giả Viễn Châu. Ôm giải thưởng vào lòng, nước mắt Thanh chảy dài trong tràng pháo tay nồng nhiệt của khán giả. Sức mạnh tinh thần từ sự cổ vũ ấy đã giúp cho anh thêm tự tin trong con đường ca hát. Thanh ghi tên tham gia các cuộc thi giọng ca cải lương liên tục đạt nhiều giải thưởng cao như: Huy chương vàng giọng ca cải lương ĐBSCL năm 2003 (do Đài TH Vĩnh Long tổ chức); Huy chương bạc giải Bông lúa vàng năm 2003 (do Đài Tiếng nói nhân dân TP Hồ Chí Minh tổ chức); Huy chương bạc giọng ca cải lương 2004 (do Đài TH Bình Phước tổ chức) và hàng chục giải thưởng ca hát khác. Để có cơ hội phát triển nghề nghiệp, từ năm 2004 đến 2006, Đào Vũ Thanh đã theo học lớp đào tạo diễn viên cải lương khóa 5 do Nhà hát Trần Hữu Trang tổ chức. Cũng từ đó, tên tuổi anh lan tỏa khắp nơi và rất được công chúng mến mộ. Đặc biệt, với gương mặt và vóc dáng sáng đẹp cùng giọng ca truyền cảm dễ lay động lòng người, Đào Vũ Thanh đã bén duyên với nhiều Đài truyền hình như HTV, VTV, CVTV, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ, Kiên Giang, Trà Vinh, Cà Mau, Sóc Trăng, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu... với gần 400 bài ca lẻ và hằng chục vai diễn, hầu hết là vai chính. Đặc biệt, Thanh được mời tham gia rất nhiều chương trình truyền hình trực tiếp, nhất là những chương trình gây quỹ từ thiện. Đất lành chim đậu, nhận thấy Tiền Giang là mảnh đất có truyền thống nghệ thuật và là cái nôi của kịch chủng cải lương, Đào Vũ Thanh tự nguyện về cộng tác với đoàn Nghệ thuật tổng hợp TG từ tháng 10 năm 2009. Trong mùa hội diễn cải lương chuyên nghiệp toàn quốc, Đào Vũ Thanh được giao vai chính trong vở “Cờ nghĩa giồng Sơn Quy” (Tác giả Huỳnh Anh - đạo diễn Tấn Lộc). Đó là vai anh hùng dân tộc Trương Định. Tuy đã có quá trình lăn lộn với sân khấu chuyên nghiệp và tên tuổi đã được khẳng định, nhưng Đào Vũ Thanh không hề có chút tự mãn. Anh đã nhìn thấy con đường khó khăn trước mắt. Đối với một diễn viên sở trường vào những vai thư sinh, kép ca, kép đẹp như Thanh, vai võ tướng Trương Định quả là một thử thách. Một số người am tường nghề nghiệp đã có thái độ hoài nghi, chưa hoàn toàn tin tưởng Đào Vũ Thanh sẽ thành công trong vai diễn này. Anh cũng biết thế nhưng không nản chí, quyết tâm làm một điều gì đó để vượt lên chính mình. Nghĩ là làm! Trong suốt quá trình luyện tập vở diễn, Đào Vũ Thanh đã miệt mài lao động, say sưa nghiên cứu vai diễn, học tập kinh nghiệm nghề nghiệp của các nghệ sĩ đi trước, với tâm niệm là hoàn thành trọng trách được giao ở mức độ cao nhất. Thật bất ngờ, Đào Vũ Thanh đã thành công! Qua vở diễn, anh đã khắc họa hình tượng nhân vật Trương Định một cách sâu sắc. Đó là một võ tướng vừa gan dạ, dũng cảm trong chiến đấu nhưng cũng rất lãng mạn trong tình cảm. Những lớp diễn Trương Định trăn trở trước khi quyết định kháng chỉ triều đình, Trương Định tử tiết ở Đám lá tối trời... Đào Vũ Thanh đã tạo được ấn tượng mạnh, làm cho nhiều khán giả phải rơi nước mắt. Với giọng thổ pha kim cùng kỹ thuật ca diễn khá điêu luyện, Đào Vũ Thanh đã tạo được hiệu quả sân khấu cao trong những lớp kịch chủ lực của vở. Kết quả sự khổ luyện ấy đã được đền bù xứng đáng khi Đào Vũ Thanh được trao tặng Huy chương vàng trong hội diễn. Niềm vui lớn lao ấy đã giúp cho Đào Vũ Thanh lao vào phục vụ khán giả tỉnh nhà không mỏi mệt. Anh tâm sự: “Được về cộng tác ở Tiền Giang, Thanh rất hãnh diện vì đã được hát trên mảnh đất được mệnh danh là cái nôi của cải lương. Đối với Thanh, nơi đây như quê hương thứ hai và Thanh sẽ đem hết sức mình để phục vụ bà con cô bác, xem Tiền Giang như là mảnh đất Trà Vinh dấu yêu, quê hương ruột thịt đã sản sinh ra Thanh vậy!”. Trong năm 2010, Đào Vũ Thanh sẽ hoàn thành Vol 8 gồm 8 bài ca cổ có chủ đề “Chung vầng trăng đợi” và đang tiến hành thủ tục xin phép làm chương trình trực tiếp truyền hình “Tiếng hát Đào Vũ Thanh” để gây quỹ từ thiện. Niềm vui lớn nhất của Đào Vũ Thanh là đã có được một sân khấu để trụ lại; ước mơ của anh là có nhiều cơ hội để phục vụ khán giả, được khán giả yêu mến và tiếp tục ủng hộ như trong thời gian qua. Xem tiếp

Minh Vương

Minh Vương

Nghệ sĩ Minh Vương quê ở Long An. Anh lên Sài Gòn theo học trung học, nhưng lại mê hát cải lương hơn, nên tìm đến thọ giáo với thầy Bảy Trạch. Để trở thành nghệ sĩ như hôm nay, Minh Vương cũng từng đi làm em nuôi của những đào kép chính, phải khuân vác, xách đồ khi đoàn di chuyển, biểu diễn, nhưng anh quyết tâm thực hiện ước mơ của mình là trở thành nghệ sĩ. Minh Vương cũng bắt đầu đi hát năm 14 tuổi (1963) và sau khi đoạt giải Khôi nguyên vọng cổ, anh thì được bầu Long ở đoàn Kim Chung mời ký hợp đồng. Ði hát chưa được 1 năm thì Minh Vương bị bệnh, tóc rụng, nên phải nghỉ ở nhà chữa bệnh. Một năm sau, Minh Vương trở lại đoàn hát. Anh nhận bất cứ vai diễn nào với tâm niệm: "Có công mài sắt có ngày nên kim". Năm 1967 Minh Vương được hát kép chính, lúc đó anh 18 tuổi và thực sự năm đó đánh dấu sự trở lại đầy ấn tượng của anh. Năm 1971, tên tuổi của Minh Vương thực sự bắt đầu tỏa sáng, được nhiều hãng băng đĩa chú ý, mời thu thanh. Đồng thời, Minh Vương được mời đóng phim Sám hối. Đến năm 1972 thì Minh Vương cùng vợ thành lập đoàn cải lương Việt Nam lưu diễn khắp nơi cho đến ngày miền Nam giải phóng. Minh Vương từng là diễn viên của Đoàn Sài Gòn, Đoàn văn Công Thành phố Hồ Chí Minh. Anh cũng đã từng đi sang biểu diễn ở các nước Tây Âu cùng với một số nghệ sỹ tài danh khác. Năm 1985, anh được khán giả và độc giả báo Tuổi Trẻ bình chọn là diễn viên sân khấu được yêu thích nhất sau 10 năm giải phóng. Xem tiếp

Chí Tâm

Chí Tâm

Chí Tâm sinh tại quận Trà Ôn, Vĩnh Long. Song thân anh mang hai dòng máu Việt và Trung Hoa, sinh sống bằng nghề buôn bán với một cửa tiệm tạp hoá lớn tên Vĩnh Hưng gần Trà Ôn. Vì nhà ở rất gần với rạp hát Long Tấn nên Chí Tâm thường xuyên được nghe vọng qua những bài vọng cổ, không kể thường được bà ngoại dắt đi xem những vở tuồng cải lương được diễn tại đây. Chính vì vậy, Chí Tâm đã chịu ảnh hưởng nặng nề của nghệ thuật cải lương ngay từ những ngày thơ ấu và cảm thấy thích thú để xin gia đình cho đi theo ngành này từ khi mới lên 6. Khởi đầu, anh học ca với thầy Minh. Sau đó, lần lượt nhận được chỉ chỉ dẫn của các nhạc sĩ khác như Bùi Kiên, Mười Ngoạn và Năm Thê. Năm lên 13, Chí Tâm được bố gửi lên theo học thầy Vĩnh Châu ở Sài Gòn, nhưng không được thu nhận vì người cải lương nổi danh này có quá đông học trò. Nhưng sau đó anh may mắn được soạn giả Yên Sơn (tức nhạc sĩ Út Châu) nhận lời hướng dẫn. Đây cũng là người đã tạo được một ảnh hưởng lớn trong bước đầu nghệ thuật của Chí Tâm trong suốt thời gian theo học toàn phần và ở nội trú tại lớp nhạc này... Sau hai năm theo học soạn giả Yên Sơn, Chí Tâm được giới thiệu đi hát ở miền Trung với đoàn Tinh Hoa. Những người có thẩm quyền trong đoàn hát này đã để ý đến khả năng của anh qua những nhạc phẩm tân cổ giao duyên do Yên Sơn viết, thu thanh trên những đĩa nhựa của hãng Continental như Em Bé Đánh Giầy, Về Bên Gối Mẹ, Con Quạ Con Chồn, Em Bé Bán Báo vv... Với đoàn Tinh Hoa, Chí Tâm đã có cơ hội cho khán giả biết được khả năng của mình qua nhiều vai diễn khác nhau như: vai Na Tra trong "Na Tra Lóc Thịt", vai Kim Đồng trong "Công Chúa Thuỷ Tề", vai Mã Chí Tâm trong "Người Ăn Cắp Bánh Mì" do Yên Sơn soạn theo một đoạn của tác phẩm "Les Misérables", vv... Do nhận biết được năng khiếu của cậu thiếu niên 15, 16 tuổi này, những đàn anh, đàn chị trong nghề như Hữu Lộc, Ngọc Thanh, Tuyết Mai, vv... cũng đã sốt sắng chỉ bảo cho Chí Tâm về kinh nghiệm ca diễn. Cùng một thời gian khi được gia đình nhắn về Trà Ôn vì mẹ bị bệnh nặng, Chí Tâm bắt đầu bị bể tiếng, nên giọng hát cao của anh trước đó trở thành giọng trầm nên không tiếp tục đi theo đoàn hát Tinh Hoa được. Anh phải ở lại nhà để học thêm tiếng Tầu với mục đích theo nghề buôn bán do ý muốn của bố. Dĩ nhiên với bản tính nghệ sĩ, Chí Tâm không hề thấy thích hợp với nghề buôn bán nên chỉ được khoảng một năm đã thấy nhớ đến ánh đèn sân khấu, những câu hát tiếng đàn. Bố anh khuyên anh không nên đi theo con đường này và muốn anh đi học về ngành chụp hình ở Cần Thơ. Bắt buộc phải nghe lời Bố, Chí Tâm lên thủ đô của miền Tây để theo học ở tiệm chụp hình Á Châu. Lợi dụng tình trạng xa nhà, anh đã theo học đàn bầu với nhạc sĩ Tứ Quốc, thường được gọi dưới tên Cò Quốc do tài nghệ sử dụng đàn cò điêu luyện của ông. Sau vài tháng theo học với nhạc sĩ Cò Quốc, Chí Tâm được mời cộng tác với ban cổ nhạc Tây Đô Cần Thơ của ông Năm Đờn trong vai trò một nghệ sĩ đàn sến. Ngoài ra anh còn cộng tác với ban cổ nhạc của Năm Hí và Y Sơn trong những chương trình phát thanh trên đài quân đội ở Cần Thơ, cùng là nơi anh sử dụng đàn bầu cho chương trình Thi Văn Tao Đàn. Thêm vào đó thỉnh thoảng anh còn xin được phép của ông chủ tiệm hình để cùng ban Cổ Kim Hoà Điệu theo chân tiểu đoàn 40 Chiến Tranh Chính Trị lưu diễn đó đây. Vào khoảng năm 71, giọng Chí Tâm trở lại bình thường, khởi đầu với "ton" Fa là "ton" trầm nhất trong cổ nhạc, sau đó lên Sol rồi mới tới La. Anh hát trở lại lần đầu tiên với đoàn Dạ Quang Châu của ông bà Tám Vân (tức soạn giả Nhị Kiều). Khoảng một năm sau, với tình trạng giới nghiêm sớm nên không có dịp hát nhiều nên đoàn hát chỉ về diễn tại những tỉnh lẻ, làng mạc xa xôi như Mỹ Hiệp, Cái Tầu Thượng, Cái Tầu Hạ, vv... Sau khi đoàn Dạ Quang Châu rã, quản lý đoàn Kim Chung mời Chí Tâm về hát cho đoàn Kim Chung 5 ở rạp Olympic để thay thế Minh Vương bị gọi động viên. Tuy nhiên trong thời kỳ này, đoàn cũng chỉ thường về diễn ở các tỉnh miền Tây như Long Xuyên, Châu Đốc và các làng mạc nhỏ. Với Kim Chung 5 và sau đó Kim Chung 2, Chí Tâm bắt đầu gây được tin tưởng để được giao cho những vai quan trọng. Vở đầu tiên, anh đóng chung với Minh Phụng nhan đề "Nhất Kiếm Bá Vương". Sau đó được mời thủ vai Thái Tử Lưng Gù trong "Bằng Tuyền Công Chúa". Anh bắt đầu gây được chú ý với vai Lữ An Tùng trong "Nhạn Về Xóm Liễu" với Lệ Thủy, Kiều Tiên và Minh Phụng. Vào thời gian kép Pương Bình của đoàn Kim Chung 2 nhẩy ra lập đoàn riêng, Chí Tâm về thay thế để trở thành kép chánh cho đoàn này bên cạnh Mỹ Châu. Vào những ngày gần biến cố tháng Tư năm 75, Hữu Phước và Hương Lan được về cộng tác với Kim Chung và cùng xuất hiện với Chí Tâm trong "Hán Đế Biệt Chiêu Quân" với Hương Lan trong vai Chiêu Quân và Chí Tâm thủ diễn vai Hán Đế. Hai người sau đó đã rất được khán giả mến mộ khi cùng nhau đóng hai vai chính trong vở "Nắng Thu Về Ngõ Trúc", được diễn liên tục trong suốt một tháng tại rạp Olympic, kể từ tháng 3 năm 75, mặc dù trong những xuất ban ngày vì thời kỳ này lệnh giới nghiêm được áp dụng kể từ 10 giờ đêm. Cũng thời gian này "Hán Đế" Chí Tâm và "Chiêu Tâm" Hương Lan bắt đầu đến với nhau bằng những tình cảm đậm đà để đi đến hôn nhân một thời gian sau. Trước đó khá lâu, thật sự tên tuổi Chí Tâm đã được biết đến nhiều, không phải nhờ sân khấu mà nhờ ở những đĩa nhựa tân cổ giao duyên do hãng đĩa Việt Nam thực hiện, sau khi anh được soạn giả Loan Thảo giới thiệu. Anh gây được nhiều chú ý nhất với vở Lan và Điệp, đóng chung với Thanh Kim Huệ. Một điều ghi nhận là anh không thu vở nào trên đĩa nhựa với Hương Lan vì trong thời gian từ 72 đến 74, Hương Lan còn hát tân nhạc cho đến khi được mời cộng tác với đoàn Kim Chung, cô mới bắt đầu chuyển qua cải lương. Chí Tâm lập gia đình với Hương Lan vào tháng 12 năm 75 bằng một tiệc cưới được tổ chức tại nhà hàng Ngọc Linh trên đường Cô Giang. Họ có với nhau 2 con, một trai sanh ở Việt Nam năm 77 tên Henri Bảo Nhi và một trai chào đời tại Pháp năm 78 tên Patrick Bảo Trang. Hiện cả hai sống ở Anaheim, nam Cali, sau khi từ Pháp sang Mỹ cùng với mẹ, với lý do cho con đi nghỉ hè. Nhưng sau đó Hương Lan đã giữ hai con ở lại Mỹ luôn sau khi cuộc hôn nhân với Chí Tâm tan vỡ. Chí Tâm và Hương Lan từ Việt Nam qua Paris cùng một lúc vào tháng 2 năm 78 dưới diện Pháp Kiều hồi hương nhờ thân phụ Hương Lan là nghệ sĩ Hữu Phước xin hồi tịch Pháp, do đó Hương Lan được công nhận như một Pháp Kiều. Họ cư ngụ tại St Tolomon, ngoại ô thủ đô Pháp Quốc trước khi dọn về quận 13 ở Paris. Sau hơn 4 năm chung sống tại Paris, cuộc hôn nhân giữa hai người đi đến tình trạng đổ vỡ, với lý do theo Chí Tâm là "thật ra thì không có gì trầm trọng lắm, nhưng tại lúc đó đứa nào cũng nóng tánh hết". Một phần khác đến từ sự hiểu lầm tình cảm của Chí Tâm đối với một người em gái của Hương Lan mà đối với anh là "tại xa gia đình nên thương mấy người em gái của Hương Lan như em ruột vậy thôi", như lời anh tâm sự. Sau khi chia tay với Hương Lan vào năm 82, Chí Tâm cùng với nghệ sĩ Michel Mỹ - đã qua đời thành lập một đoàn hát tên Năm Châu, để tưởng niệm cố nghệ sĩ tài danh tên Năm Châu. Với đoàn này, Chí Tâm đã được những đồng bào ở Pháp, Thụy Sĩ, Bỉ, Tây Đức, Na Uy, Đan Mạch, vv... biết nhiều đến tên tuổi qua các vở tuồng như Số Đỏ (tức Tình Cô Gái Huế, là vở tuồng đầu tiên của đoàn Năm Châu) của Qui Sắc, Máu Nhuộm Sân Chùa, Đường Gươm Nguyên Bá, Tâm Sự Loài Chim Biển. Tuy nhiên dù "ai cũng mê, cũng thích nhưng mà đi coi thì hơi khó vì phần lớn khán giả là người có tuổi, con cháu không chịu đưa đi thì cũng thua luôn". Đó là lý do đưa đến tình trạng tan rã của đoàn Năm Châu. Năm 85, Hương Lan và hai con sang sống tại California, trong khi Chí Tâm vẫn ở lại Pháp, cư ngụ tại quận 19 Paris. Đến khi gặp một người bạn gái khác, là một người thường tham gia trong những hoạt động văn nghệ của chùa Khánh Anh, Chí Tâm dọn về quận 11 trước khi cùng với người yêu mới mua một căn nhà gần Versailles. Nhưng đến năm 89, một lần nữa sự chia tay lại đến với anh và người nữ nghệ sĩ sử dụng đàn tranh. Cũng trong thời gian này, Chí Tâm xin nghỉ việc với công ty Alcatel Thompson, là nơi anh làm từ năm 79. Tin tưởng khả năng của mình có nhiều cơ hội phát triển hơn tại Hoa Kỳ, nên Chí Tâm quyết định dời sang Houston cư ngụ vào tháng 10 năm 1989, một tháng sau khi xin nghỉ việc. Hơn nữa vì có quen với một người bạn gái ở California, đã hứa sẽ bảo lãnh anh ở lại Hoa Kỵ" Nhưng sau khi thu xếp xong xuôi thì được cô ấy báo là đã có người yêu khác. Nhưng đã lỡ, cũng qua Mỹ "phóng lao phải theo lao" và nhất là đã từ giã bạn bè ở Pháp rồi, nên nếu ở lại thì kỳ lắm!". Qua năm 90, anh được Hoàng Ngọc Ẩn mời cộng tác trong lãnh vực báo chí, phụ trách mục Điện Ảnh Hồng Kông cho những tờ báo Vietnam Post, Thương Mại Việt Nam tại Houston. Ngoài ra, anh cũng được mời làm chuyên viên thu thanh cho trung tâm Hạ Quyên và coi sóc tiệm sách mang cùng tên của Hoàng Ngọc Ẩn và đã thực hiện được 2 CD cho thi sĩ này. Sau khoảng 7 năm cư ngụ tại Houston, Chí Tâm nhận thấy việc tạo dựng tên tuổi tại đây không được khả quan cho lắm vì tình hình sinh hoạt văn nghệ vào thời kỳ này chưa được bộc phát mạnh mẽ. Chí Tâm quyết định chọn California để thử thời vận vào năm 96, sau khi được trung tâm Làng Văn mời về phụ trách phòng thu thanh ở Orange County. Anh cũng đã vài lần viếng thăm thủ đô văn nghệ tỵ nạn trước đó trong những dịp về hát với Hương Lan hoặc trình diễn tại quán cà phê Tao Nhân, nên đã phần nào nắm vững được tình hình sinh hoạt ở đây. Sau hơn một năm cộng tác với trung tâm Làng Văn, Chí Tâm tự sắm một phòng thu thanh riêng để đứng ra điều hành cho đến nay. Với Làng Văn, Chí Tâm đã xuất hiện trên một số chương trình video, trong số đó có đoản kịch "Đưa Nàng Về Dinh" do anh sáng tác và diễn chung với Delena. Ngoài ra anh còn nhận làm hoà âm cho trung tâm Hải Âu cùng những bạn bè trong giới nghệ sĩ. Nhờ chịu khó nghiên cứu, học hỏi thêm nên ngoài lãnh vực cổ nhạc, Chí Tâm còn chứng tỏ có khả năng trong lãnh vực tân nhạc. Phòng thu Chí Tâm đã thực hiện nhiều "projects" tân cổ giao duyên như tiếng hát Đầu Nôi, Những Chuyện Tình Huyền Sử, Gặp Lại Cố Nhân, vv... và gần đây nhất là 18 Năm You And Me. Ngoài ra anh cũng đã thực hiện một số "projects" tân nhạc như Mây Vẫn Còn Bay, Khúc Nguyệt Cầm, vv... Thêm vào đó, nhờ có giọng hát mang âm hưởng Trung Hoa, Chí Tâm đã được mời hát tân nhạc cho nhiều phim bộ. Ngoài vài lần xuất hiện trên những chương trình video của Làng Văn, vào năm 96 Chí Tâm thu hình cho trung tâm Thúy Nga bài Duyên Nợ Chợ Trời do anh sáng tác, trình diễn cùng với Hương Lan. Những năm 97 và 98, những tác phẩm của Chí Tâm là Nấu Bánh Đêm Xuân và Chiếc Bánh Bông Lan cũng đã được đưa vào những chương trình "Paris By Night". Không kể những lần được mời diễn trong các chương trình văn nghệ, từ năm 2001 Chí Tâm còn thành lập nhóm lấy tên là "Sân Khấu Văn Lang". Chương trình mới nhất của nhóm này diễn ra vào ngày 24 tháng 8 với soạn phẩm cải lương "Bông Hồng Cài Áo" của soạn giả Hoàng Khâm. Từ năm 99, Chí Tâm được mời cộng tác với đài Little Saigon Radio, phụ trách phần xướng ngôn cùng với Chu Ly từ 1 giờ trưa đến 6 giờ chiều với những tiết mục như: đọc tin, talk show, thông báo cộng đồng, vv... Đặc biệt, riêng mỗi thứ hai, anh phụ trách chương trình "Tìm Hiểu Cổ Nhạc" từ 3 giờ 15 đến 3 giờ 45. Thứ ba, anh cùng với Chu Ly phụ trách chương trình đọc truyện, thứ Tư: chương trình "Tiếng Hát Quê Hương". Và thứ Năm chương trình "Ca Dao Tục Ngữ". Tuy bận rộn như vậy, Chí Tâm còn nhận hướng dẫn về ca và đàn cổ nhạc. Riêng về đời sống tình cảm của mình, Chí Tâm tự nhận thấy là "vui và không có gì lận đận lắm". Anh nói thêm "Mình chỉ sợ viên đạn đầu tiên thôi. Bị bắn một cái đùng! Còn những viên đạn sau thì không sao hết". Hiện Chí Tâm chung sống từ năm 99 với người bạn đời tên Minh Tuyền, quê ở Châu Đốc, là người phụ giúp anh rất nhiều trong việc điều hành phòng thu Chí Tâm cũng như trong những hoạt động nghệ thuật của anh. Với tâm hồn tận tụy với nghề nghiệp và một trí nhớ thật tốt, rất cần thiết cho vấn đề tổ chức công việc, môi trường hiện nay hoàn toàn thích hợp với khả năng của Chí Tâm để anh có thể tiến xa hơn nữa trong việc phục vụ nghệ thuật, nhất là khi có một guồng máy đã chạy đều... Xem tiếp

Minh Cảnh

Minh Cảnh

Nghệ sĩ Minh Cảnh tên thật là Nguyễn Văn Cảnh, sinh năm 1938 tại Chợ Lớn, trong gia đình nghệ thuật. Năm 1959, vốn mê hát cải luơng, Minh Cảnh đã được ông Hai Sĩ dạy ca vọng cổ. Sau đó được nghệ sĩ vĩ cầm Văn Được hướng dẫn ca tài tử ở Đài Phát Thanh. Năm 1960, ông được nghệ sĩ Văn Được và nhạc sĩ đàn cò Ngọc Sáu giới thiệu với bầu Long để theo hát ở đoàn Kim Chung. Trong thời gian này Minh Cảnh được nhạc sĩ Bảy Trạch dạy thêm nhiều làn điệu, rồi được ra sân khấu trong các vở: Người nghệ sĩ mù đất Hà Tiên, Phù Kiều Trường Hận, Tiếng cười Bao Tự, Tuyết Phủ Chiều Đông, Chiều thu sầu ly biệt… Năm 1961, nghệ sĩ Minh Cảnh nổi danh với bài vọng cổ “Tu là cội phúc” của soạn giả Viễn Châu và bắt đầu được mời thu đĩa ở hãng Asia, các làn điệu vọng cổ của soạn giả Viễn Châu như: Võ Đông Sơ, Lưong Sơn Bá, Mưa trên phố Huế, Sầu vương ý nhạc, Chuyến xe lam chiều, Lưu Bình Dương Lễ, Lòng dạ đàn bà, Em bé đánh giày, Trái sầu riêng (với Mỹ Châu), Đời mưa gió, Ni cô và Kiếm sĩ (với Diệu Hiền), Người điên yêu trăng, Khóc cưòi, Hai bản đàn xuân (của Quy Sắc)…. Năm 1963, đoàn Kim Chung 2 được thành lập, Minh Cảnh chuyển sang đoàn 2 và nổi danh qua các vở: Manh áo quê nghèo, Bên cầu vọng thê, Lưỡi kiếm thần, Lời thơ trên tuyết, Bức hoạ da người, Bẻ kiếm bên trời, Hận đầu xanh, Bích Vân Cung kỳ án, Trinh nữ lầu xanh… Nghệ sĩ Minh Cảnh cũng đã được mời đi biểu diễn ở nhiều nước trên thế giới. Ông là người luôn tâm huyết với nghề, được bạn bè đồng nghiệp đánh giá cao và công chúng ghi nhận, một Minh Cảnh tài năng trên sân khấu. Xem tiếp

Minh Phụng

Minh Phụng

Minh Phụng (1943–2008) là nghệ sĩ cải lương gạo cội của sân khấu miền Nam. Ông được nhà nước Việt Nam phong là Nghệ sĩ ưu tú. Ông sinh trưởng tại Mỹ Tho. Lúc mới vào nghề ông lấy nghệ danh Tân Tiến, khi vào đoàn hát Thanh Phương ông đổi nghệ danh Minh Phụng cho đến nay. Minh và Phụng là tên 2 đứa con của người bạn thân của ông. Minh Phụng đã tham gia ở nhiều đoàn hát khác nhau như Tân Đô, Hoa Thảo - Hậu Tấn, Thanh Phương... Đến gánh hát Kim Chung, hợp cùng hai nghệ sĩ Minh Cảnh, Minh Vương, ông đã khiến giới mộ điệu cải lương mê đắm từ những thập niên 1960 – 1970.[2] Ông đã đóng cặp với nhiều nữ nghệ sĩ tên tuổi như Út Bạch Lan (Trinh tiết một loài hoa), Mỹ Châu (Bích Vân Cung lệ sử, Kiếm sĩ người dơi), và nhất là các vở dã sử kiếm hiệp mang màu sắc Trung Hoa với Diệu Hiền, Lệ Thủy (Xin một lần yêu nhau, Kiếp nào có yêu nhau...) Gần 50 năm gắn bó với sân khấu cải lương, trong giai đoạn hưng thịnh nhất của bộ môn nghệ thuật này, nghệ sĩ Minh Phụng đã đi vào lòng khán giả mộ điệu với hình ảnh một kép đẹp, có giọng hát đặc trưng với thanh âm cao, ngọt ngào và sâu lắng. Nhiều vở diễn và những bài vọng cổ có sự góp mặt của ông và do ông thể hiện đã đi vào lòng khán giả như: Bóng hồng sa mạc, Tâm sự loài chim biển (vai Áo vũ cơ hàn), Xin một lần yêu nhau (vai Âu Thiên Vũ), Kiếp nào có yêu nhau (vai Mộ Dung Trạch), Đêm lạnh chùa hoang, Máu nhuộm sân chùa, Mùa thu trên Bạch Mã Sơn...; bài vọng cổ An Lộc Sơn, Nước mắt quê hương, Thương về cố đô 14 năm mong đợi, Cho xin sống lại một ngày, Đừng nói xa nhau, Phố đêm, Trường hận... Xem tiếp

Phượng Liên

Phượng Liên

Phượng Liên hồi nhỏ học rất giỏi, và cha của Phượng Liên không thích nghề ca hát ( Ca nhạc lẫn cải lương ) vì bị tư tưởng " Xướng ca vô loài" áp đặt.Thế nhưng, bên cạnh việc học hành, Phượng Liên vẫn say mê ca hát nhưng lại ca nhạc. Cô tham gia ban nhạc Tây Đô cùng với nữ nghệ sĩ Mộng Tiền ( Tức Kim Liên) và hát rất nhiều bài nhạc hay. Thế rồi một hôm, đang nô giỡn trên đường cùng bè bạn, Phượng Liên ngâm vài câu vọng cổ trong vở tuồng " Người vợ không bao giờ cưới" của Thành Được và Út Bạch Lan,thế là được nghệ sĩ Phước Hậu phát hiện và nhất quyết theo đuổi tới tận nhà , xin bà mẹ của cô để anh có thể dạy cho Phượng Liên hát giọng cổ. Và từ đó Phượng Liên say mê giọng cổ, học rất mau lẹ, tập đóng vài vai đào con, và theo các đoàn nhỏ để hát. Danh tiếng của cô đào 15 tuổi này nhanh chóng lan đến tai các bầu đoàn và cũng làm cho Phượng Liên càng nuôi ham vọng được cả nước biết đến ,được đóng đào chính và được giải thưởng Thanh Tâm như Thanh Nga, Bạch Tuyết,Mỹ Châu... Xem tiếp

Thanh Kim Huệ

Thanh Kim Huệ

Thời hoàng kim của sân khấu cải lương trong thập niên 60, nhiều nghệ sĩ trẻ từ 12 đến 15 tuổi nổi danh nhờ vào giọng ca vọng cổ với làn hơi thiên phú, có sắc thái mới lạ, hấp dẫn khán thính giả mặc dù những nghệ sĩ trẻ nầy chưa có những nét đặc sắc về diễn xuất hay về nhan sắc. Đây là một trào lưu của khán thính giả thích nghe ca vọng cổ hơn là thưởng thức nghệ thuật diễn xuất trên sân khấu. Các dĩa hát, các băng cassette ca vọng cổ và tuồng cải lương được sản xuất và phát hành rộng rãi, được đông đảo người mua và thưởng thức từ thành thị đến thôn quê. Điều đó làm cho nghệ sĩ danh ca vọng cổ trẻ càng mau nổi tiếng. Trong số những nghệ sĩ nổi danh nhanh chóng đó có các nghệ sĩ Minh Vương, Minh Cảnh, Minh Phụng, Lệ Thủy, Ngọc Giàu, Mỹ Châu, Thanh Kim Huệ, Phượng Liên… Xem tiếp